Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2020

ẨM THỰC VIỆT NAM


1.12 món ăn Việt Nam chính thức được công nhận giá trị ẩm thực châu Á

Đơn vị công bố thông tin

Tổ chức Kỷ lục Việt Nam

http://kyluc.vn/ky-luc/702.12-mon-an-viet-nam-chinh-thuc-duoc-cong-nhan-gia-tri-am-thuc-chau-a.html

Thứ năm, ngày 19 - 12 năm 2013

Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

GIOI THIEU VE HUYEN KRONG BONG

Xã Yang Mao PDF. In Email
I/ Thông tin giới thiệu về tổ chức.
Cơ quan xã Yang Mao hiện nay gồm 40 cán bộ, công chức. Trong đó có 11 cán bộ chuyên trách, 13 cán bộ công chức và 16 cán bộ không chuyên trách. Có tất cả 09 tổ chức, cơ quan, đoàn thể chính trịgồm: Đảng ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN xã, Hội CCB, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên và CĐCS.
II/ Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Đảng ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN xã:
1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Đảng ủy xã:
Chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đề ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, lãnh đạo thực hiện có hiệu quả.
Xây dựng đảng bộ, trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn kết thống nhất trong đảng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên.
Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch, vững mạnh; chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ đảng.
2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND:
2.1/ Trong lĩnh vực kinh tế:
2.1.1. Quyết định biện pháp thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm; kế hoạch sử dụng lao động công ích hàng năm; biện pháp thực hiện chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi theo quy hoạch chung;
2.1.2. Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương và điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật; giám sát việc thực hiện ngân sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định;
2.1.3. Quyết định biện pháp quản lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại nhằm phục vụ các nhu cầu công ích của địa phương.
2.1.4. Quyết định biện pháp xây dựng và phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác, kinh tế hộ gia đình ở địa phương;
2.1.5. Quyết định biện pháp quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn nước, các công trình thuỷ lợi theo phân cấp của cấp trên; biện pháp phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, bảo vệ rừng, tu bổ và bảo vệ đê điều ở địa phương;
2.1.6. Quyết định biện pháp thực hiện xây dựng, tu sửa đường giao thông, cầu, cống trong xã và các cơ sở hạ tầng khác ở địa phương;
2.1.7. Quyết định biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại.
2.2. Trong lĩnh vực y tế, giáo dục, xã hội, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao:
Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo; quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới gióa dục mầm non, giáo dục phổ thông; bảo đảm cơ sở vật chất và điều kiện cho các hoạt động giáo dục, đào tạo ở địa phương;
Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển sự nghiệp văn hóa, thông tin, thể dục thể thao; biện pháp bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa ở địa phương; biện pháp bảo đảm cơ sở vật chất và điều kiện cho các hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao ở địa phương theo quy định của pháp luật.
Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển nguồn nhân lực, sử dụng lao động, giải quyết việc làm và cải thiện điều kiện làm việc, sinh hoạt của người lao động, bảo hộ lao động; thực hiện phân bổ dân cư và cải thiện đời sống nhân dân ở địa phương.
Quyết định biện pháp giáo dục, chăm sóc thanh niên, thiếu niên, nhi đồng; xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp; giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc; ngăn chặn việc truyền bá văn hoá phẩm phản động, đồi trụy, bài trừ mê tín, hủ tục, phòng, chống các tệ nạn xã hội, các biểu hiện không lành mạnh trong đời sống xã hội ở địa phương;
Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh;  biện pháp bảo vệ sức khỏe nhân dân, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa; bảo vệ, chăm sóc bà mẹ, trẻ em; thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình; phòng, chống dịch bệnh và phát triển y tế địa phương.
Quyết định biện pháp thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, những người và gia đình có công với nước; thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và xóa đói, giảm nghèo.
2.3. Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, tài nguyên môi trường.
Quyết định chủ trương, biện pháp khuyến khích việc nghiên cứu, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân ở địa phương.
Quyết định biện pháp quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở sông hồ tại địa phương theo quy định của pháp luật.
Quyết định biện pháp bảo vệ môi trường; phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường ở địa phương theo quy định của pháp luật.
2.4. Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự; xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ và quốc phòng toàn dân; thực hiện nhiệm vụ hậu cần tại chỗ; thực hiện chính sách hậu phương quân đội và chính sách đối với các lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương;
Quyết định biện pháp bảo đảm giữ gìn an ninh, trật tự công cộng, an toàn xã hội; phòng, chống cháy, nổ; đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác trên địa bàn.
2.5. Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo.
Quyết định biện pháp thực hiện chính sách dân tộc, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao dân trí của đồng bào các dân tộc thiểu số; bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tăng cường đoàn kết toàn dân và tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc ở địa phương;
Quyết định biện pháp thực hiện chính sách tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân địa phương theo quy định của pháp luật.
2.6. Trong lĩnh vực thi hành pháp luật.
Quyết định biện pháp bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của mình ở địa phương;
Quyết định biện pháp bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân;
Quyết định biện pháp bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước; bảo hộ tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương;
Quyết định biện pháp bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật.
2.7. Trong việc xây dựng chính quyền địa phương.
Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thành viên khác của Uỷ ban nhân dân cùng cấp; bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân và chấp nhận việc đại biểu Hội đồng nhân dân xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định của pháp luật;
Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu;
Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị trái pháp luật của Uỷ ban nhân dân cùng cấp;
2.8. Hoạt động giám sát của HĐND xã.
Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân được tiến hành thường xuyên, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định.
Giám sát của Hội đồng nhân dân bao gồm: giám sát của Hội đồng nhân dân tại kỳ họp; giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân; giám sát của các Ban của Hội đồng nhân dân và giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân.
Hội đồng nhân dân giám sát thông qua các hoạt động sau đây:
- Xem xét báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân;
- Xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân;
- Thành lập Đoàn giám sát khi xét thấy cần thiết;
- Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu.
Hội đồng nhân dân quyết định chương trình giám sát hàng năm của mình theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và kiến nghị của cử tri ở địa phương.
Thường trực Hội đồng nhân dân dự kiến chương trình giám sát của Hội đồng nhân dân trình Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định tại kỳ họp cuối năm của năm trước và tổ chức thực hiện chương trình đó.
Tại kỳ họp cuối năm, Hội đồng nhân dân xem xét, thảo luận báo cáo công tác hàng năm của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân. Tại kỳ họp giữa năm, các cơ quan này gửi báo cáo công tác đến đại biểu Hội đồng nhân dân; khi cần thiết, Hội đồng nhân dân có thể xem xét, thảo luận.
Tại kỳ họp cuối nhiệm kỳ, Hội đồng nhân dân xem xét, thảo luận báo cáo công tác cả nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân.
Hội đồng nhân dân có thể yêu cầu Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân báo cáo về những vấn đề khác khi xét thấy cần thiết.
Hội đồng nhân dân xem xét, thảo luận báo cáo theo trình tự sau đây:
- Người đứng đầu cơ quan quy định ở trên trình bày báo cáo;
- Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân trình bày báo cáo thẩm tra;
- Hội đồng nhân dân thảo luận;
- Người đứng đầu cơ quan trình báo cáo có thể trình bày thêm những vấn đề có liên quan mà Hội đồng nhân dân quan tâm;
- Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về báo cáo công tác khi xét thấy cần thiết.
Tại kỳ họp Hội đồng nhân dân, việc chất vấn và trả lời chất vấn được thực hiện như sau:
- Đại biểu Hội đồng nhân dân ghi rõ nội dung chất vấn, người bị chất vấn vào phiếu ghi chất vấn và gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân. Thường trực Hội đồng nhân dân chuyển chất vấn đến người bị chất vấn và tổng hợp các chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân để báo cáo Hội đồng nhân dân;
- Thường trực Hội đồng nhân dân dự kiến danh sách những người có trách nhiệm trả lời chất vấn và báo cáo Hội đồng nhân dân quyết định;
Việc trả lời chất vấn tại phiên họp toàn thể của Hội đồng nhân dân được thực hiện theo trình tự sau đây:
- Người bị chất vấn trả lời trực tiếp, đầy đủ về các nội dung mà đại biểu Hội đồng nhân dân đã chất vấn và xác định rõ trách nhiệm, biện pháp khắc phục;
- Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể nêu câu hỏi liên quan đến nội dung đã chất vấn để người bị chất vấn trả lời.
Thời gian trả lời chất vấn do Hội đồng nhân dân quyết định:
- Sau khi nghe trả lời chất vấn, nếu đại biểu Hội đồng nhân dân không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Hội đồng nhân dân tiếp tục thảo luận tại phiên họp đó, đưa ra thảo luận tại phiên họp khác của Hội đồng nhân dân hoặc kiến nghị Hội đồng nhân dân xem xét trách nhiệm của người bị chất vấn. Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết.
Khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của mình thì Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định việc bãi bỏ văn bản đó.
- Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về việc văn bản quy phạm pháp luật không trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó.
Khi thực hiện nhiệm vụ giám sát do Hội đồng nhân dân giao, Đoàn giám sát có trách nhiệm:
- Thông báo nội dung, kế hoạch giám sát cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân chịu sự giám sát chậm nhất là bảy ngày trước ngày bắt đầu tiến hành hoạt động giám sát;
- Mời đại diện Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận và yêu cầu đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có liên quan tham gia giám sát; cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu này;
- Thực hiện đúng nội dung, kế hoạch giám sát và thẩm quyền, trình tự, thủ tục giám sát theo quy định của pháp luật; không làm cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân chịu sự giám sát;
- Trong trường hợp cần thiết, Đoàn giám sát yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp để chấm dứt hành vi vi phạm, xử lý người vi phạm nhằm khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị vi phạm và chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu, kiến nghị qua hoạt động giám sát của mình.
Căn cứ vào kết quả giám sát, Hội đồng nhân dân có các quyền sau đây:
- Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân cùng cấp;
- Ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết;
- Miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên thường trực Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân theo quy định của pháp luật.
Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu theo trình tự sau đây:
- Thường trực Hội đồng nhân dân trình Hội đồng nhân dân về việc bỏ phiếu tín nhiệm;
- Người được đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm có quyền trình bày ý kiến của mình trước Hội đồng nhân dân;
- Hội đồng nhân dân thảo luận và bỏ phiếu tín nhiệm.
- Trong trường hợp không được quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân tín nhiệm thì cơ quan hoặc người đã giới thiệu để bầu người đó có trách nhiệm trình Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định việc miễn nhiệm, bãi nhiệm người không được Hội đồng nhân dân tín nhiệm.
2.9. Hoạt động giám sát của Thường trực HĐND xã. 
Thường trực Hội đồng nhân dân có quyền giám sát hoạt động của Uỷ ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân; giám sát cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân trong việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và các nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định chương trình giám sát hàng quý, hàng năm của mình căn cứ vào chương trình giám sát của Hội đồng nhân dân và ý kiến của các thành viên Thường trực Hội đồng nhân dân, đề nghị của các Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và ý kiến, kiến nghị của cử tri ở địa phương.
Căn cứ vào chương trình giám sát của mình hoặc theo yêu cầu của HĐND, cac đại biểu HĐND, Thường trực HĐND quyết định thành lập Đoàn giám sát.
Quyết định của Thường trực Hội đồng nhân dân về việc thành lập Đoàn giám sát phải xác định rõ nội dung, kế hoạch giám sát, thành phần Đoàn giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát.
Nội dung, kế hoạch giám sát của Đoàn giám sát được thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát chậm nhất là bảy ngày, trước ngày Đoàn bắt đầu tiến hành hoạt động giám sát.
Đoàn giám sát có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Thực hiện đúng nội dung, kế hoạch giám sát trong nghị quyết về việc thành lập Đoàn giám sát;
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát, giải trình những vấn đề mà Đoàn giám sát quan tâm;
- Xem xét, xác minh những vấn đề mà Đoàn giám sát thấy cần thiết;
- Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp dụng các biện pháp để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm và khôi phục lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật;
- Chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc hoạt động giám sát, Đoàn giám sát phải có báo cáo kết quả giám sát gửi Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định.
Thường trực Hội đồng nhân dân giám sát việc thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo; tổ chức Đoàn giám sát hoặc giao cho các Ban của Hội đồng nhân dân giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại địa phương.
Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Thường trực Hội đồng nhân dân yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, xem xét trách nhiệm, xử lý người vi phạm, khôi phục lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm, đồng thời yêu cầu người có thẩm quyền xem xét, giải quyết; nếu không đồng ý với việc giải quyết của người đó thì yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết. Cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của Thường trực Hội đồng nhân dân và phải báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định giải quyết.
Thường trực Hội đồng nhân dân trình Hội đồng nhân dân xem xét các văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp trong trường hợp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Thường trực Hội đồng nhân dân trình Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hoặc khi có ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu.
Thường trực Hội đồng nhân dân có trách nhiệm tiếp nhận kiến nghị, chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân để chuyển đến người bị chất vấn; thông báo cho người bị chất vấn thời hạn và hình thức trả lời chất vấn.
Thường trực Hội đồng nhân dân điều hòa, phối hợp hoạt động giám sát của các Ban của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân; tổng hợp kết quả giám sát, trình Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định xử lý theo thẩm quyền.
3. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND xã.
3.1. Trong lĩnh vực kinh tế:
3.1.1. Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua để trình Uỷ ban nhân dân huyện phê duyệt; tổ chức thực hiện kế hoạch đó;
3.1.2. Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết và lập quyết toán ngân sách địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo Uỷ ban nhân dân, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp;
3.1.3. Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương, phối hợp với các cơ quan nhà nước cấp trên trong việc quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn xã, thị trấn và báo cáo về ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;
3.1.4. Quản lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại phục vụ các nhu cầu công ích ở địa phương; xây dựng và quản lý các công trình công cộng, đường giao thông, trụ sở, trường học, trạm y tế, công trình điện, nước theo quy định của pháp luật;
3.1.5. Huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng của xã, thị trấn trên nguyên tắc dân chủ, tự nguyện. Việc quản lý các khoản đóng góp này phải công khai, có kiểm tra, kiểm soát và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật.
3.2. Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi và tiểu thủ công nghiệp, Uỷ ban nhân dân xã thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
3.2.1. Tổ chức và hướng dẫn việc thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án khuyến khích phát triển và ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển sản xuất và hướng dẫn nông dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi trong sản xuất theo quy hoạch, kế hoạch chung và phòng trừ các bệnh dịch đối với cây trồng và vật nuôi;
3.2.2. Tổ chức việc xây dựng các công trình thuỷ lợi nhỏ; thực hiện việc tu bổ, bảo vệ đê điều, bảo vệ rừng; phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt; ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ đê điều, bảo vệ rừng tại địa phương;
3.2.3. Quản lý, kiểm tra, bảo vệ việc sử dụng nguồn nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật;
3.2.4. Tổ chức, hướng dẫn việc khai thác và phát triển các ngành, nghề truyền thống ở địa phương và tổ chức ứng dụng tiến bộ về khoa học, công nghệ để phát triển các ngành, nghề mới.
3.3.Trong lĩnh lực xây dựng, giao thông vận tải, Uỷ ban nhân dân xã thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
3.3.1. Tổ chức thực hiện việc xây dựng, tu sửa đường giao thông trong xã theo phân cấp;
3.3.2. Quản lý việc xây dựng, cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ ở điểm dân cư nông thôn theo quy định của pháp luật, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về xây dựng và xử lý vi phạm pháp luật theo thẩm quyền do pháp luật quy định;
3.3.3. Tổ chức việc bảo vệ, kiểm tra, xử lý các hành vi xâm phạm đường giao thông và các công trình cơ sở hạ tầng khác ở địa phương theo quy định của pháp luật;
3.3.4. Huy động sự đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng đường giao thông, cầu, cống trong xã theo quy định của pháp luật.
3.4.Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá và thể dục thể thao, Uỷ ban nhân dân xã thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
3.4.1. Thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục ở địa phương; phối hợp với trường học huy động trẻ em vào lớp một đúng độ tuổi; tổ chức thực hiện các lớp bổ túc văn hoá, thực hiện xoá mù chữ cho những người trong độ tuổi;
3.4.2. Tổ chức xây dựng và quản lý, kiểm tra hoạt động của nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường mầm non ở địa phương; phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp trên quản lý trường tiểu học, trường trung học cơ sở trên địa bàn;
3.4.3. Tổ chức thực hiện các chương trình y tế cơ sở, dân số, kế hoạch hoá gia đình được giao; vận động nhân dân giữ gìn vệ sinh; phòng, chống các dịch bệnh;
3.4.4. Xây dựng phong trào và tổ chức các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao; tổ chức các lễ hội cổ truyền, bảo vệ và phát huy giá trị của các di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh ở địa phương theo quy định của pháp luật;
3.4.5. Thực hiện chính sách, chế độ đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những người và gia đình có công với nước theo quy định của pháp luật
3.4.6. Tổ chức các hoạt động từ thiện, nhân đạo; vận động nhân dân giúp đỡ các gia đình khó khăn, người già cô đơn, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa; tổ chức các hình thức nuôi dưỡng, chăm sóc các đối tượng chính sách ở địa phương theo quy định của pháp luật;
3.4.7. Quản lý, bảo vệ, tu bổ nghĩa trang liệt sĩ; quy hoạch, quản lý nghĩa địa ở địa phương.
3.5.Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thi hành pháp luật ở địa phương, Uỷ ban nhân dân xã thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:  
3.5.1. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục xây dựng quốc phòng toàn dân, xây dựng làng xã chiến đấu trong khu vực phòng thủ địa phương;
3.5.2. Thực hiện công tác nghĩa vụ quân sự và tuyển quân theo kế hoạch; đăng ký, quản lý quân nhân dự bị động viên; tổ chức thực hiện việc xây dựng, huấn luyện, sử dụng lực lượng dân quân tự vệ ở địa phương;
3.5.3. Thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc vững mạnh; thực hiện biện pháp phòng ngừa và chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác ở địa phương;
3.5.4. Quản lý hộ khẩu; tổ chức việc đăng ký tạm trú, quản lý việc đi lại của người nước ngoài ở địa phương.
3.6.Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, Uỷ ban nhân dân xã có nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn và bảo đảm thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ở địa phương theo quy định của pháp luật.
3.7.Trong việc thi hành pháp luật, Uỷ ban nhân dân xã thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
3.7.1. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật; giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật;
3.7.2. Tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân theo thẩm quyền;
3.7.3. Tổ chức thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc thi hành án theo quy định

http://krongbong.daklak.gov.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=377&Itemid=102



Huyện Krông Bông: Giao lưu văn hóa – thể thao 4 xã cánh Đông
Cập nhật lúc 14:17, Thứ Tư, 12/02/2014 (GMT+7)
Ngày 11- 2, Phòng Văn hoá - Thông tin huyện Krông Bông tổ chức giao lưu văn hóa – thể thao 4 xã cánh Đông.
Gần 300 vận động viên, diễn viên không chuyên đến từ 4 xã: Yang Mao, Cư Drăm, Cư Pui, Hòa Phong đã tham gia tranh tài ở các nội dung: bóng chuyền nam, nhảy bao bố lượm bóng, kéo co, đẩy gậy nam - nữ, thi giã gạo, thi thời trang đẹp, biểu diễn văn nghệ.
Kết quả, giải Nhất toàn đoàn thuộc về xã Yang Mao; giải Nhì: xã Cư Drăm; giải Ba: xã Hòa Phong. Ngoài ra Ban tổ chức còn trao 46 giải cá nhân và giải đồng đội cho các vận động viên, diễn viên và các tập thể có thành tích tốt trong đợt giao lưu.
Dưới đây là một số hình ảnh tại chương trình giao lưu:
Các vận động viên tranh tài ở môn đẩy gậy.
Các vận động viên tranh tài ở môn đẩy gậy.

Thi tài giã gạo
Thi tài giã gạo

Tranh bóng quyết liệt trong trận đấu bóng chuyền.
...thi đấu bóng chuyền.

Nội dung thi kéo co được khán giả cổ vũ nhiệt tình.
... thi kéo co.

Biểu diễn thời trang
Biểu diễn trang phục truyền thong
 
tác giả:Châu Phan
http://baodaklak.vn/channel/3522/201402/huyen-krong-bong-giao-luu-van-hoa-the-thao-4-xa-canh-dong-2293356/



TRỞ LẠI VÙNG CĂN CỨ YANG MAO
Sự đầu tư của Nhà nước thông qua các chương trình 134, 135, 167 cùng với quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị và tinh thần đoàn kết cộng đồng đã đem lại diện mạo mới cho xã Yang Mao (huyện Krông Bông) - căn cứ cách mạng H9 năm xưa.

Trạm Y tế và nhà làm việc mới của Đảng ủy - HĐND và UND xã Yang Mao vừa được xây dựng xong năm 2011.

Hình ảnh dễ nhận ra nhất là tuyến đường liên xã đã được nhựa hóa; các đường liên thôn, buôn thường xuyên được tu sửa tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đi lại, vận chuyển nông sản. Dọc theo những trục đường chính là hệ thống điện chiếu sáng, những hàng cây xanh, những mái nhà ngói đỏ tươi… Bên hiên nhà dài già làng Ae Thó, buôn Tul kể chuyện: Trong kháng chiến, vùng căn cứ cách mạng H9 bị giặc đánh phá ác liệt, chúng thường xuyên càn quét, dồn dân lập ấp, nhưng dân làng vẫn một lòng đi theo cách mạng  gùi lương, tải đạn, nuôi giấu cán bộ, bộ đội, đấu tranh làm thất bại âm mưu của địch. Sau giải phóng người dân gặp muôn vàn khó khăn, thường xuyên thiếu đói do tập quán sản xuất nông nghiệp lạc hậu, cùng tan dư của chiến tranh.
Từ khi được Nhà nước đầu tư xây dựng hạ tầng thiết yếu, đời sống bắt đầu khởi sắc, đường ô tô vào tận trung tâm xã, có trạm y tế chăm sóc sức khỏe, có trường học cho con em, bà con biết sử dựng các loại giống mới cho năng suất cao như lúa Khang dân, ngô lai VN110, CP888… nhiều gia đình không những thoát nghèo mà còn có tích lũy, vươn lên làm giàu. Ông Trương Mậu Quyết, Chủ tịch UBND xã cho biết: “Từ chỗ có gần 100% số hộ nghèo đói, đến nay tỷ lệ hộ nghèo của xã còn 50% (trung bình giảm 5%); tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng hàng năm từ 6-10%; số hộ khá tăng cao, cả xã có gần 50 hộ sản xuất kinh doanh giỏi thu nhập từ 25 triệu - 60 triệu đồng/năm, nhiều hộ mua sắm được các phương tiện đắt tiền phục vụ sinh hoạt và sản xuất, xây dựng nhà cửa khang trang”. Điển hình như buôn M’ghi có 101 hộ, 549 khẩu trong đó đồng bào Êđê chiếm 98%, được Hội Nông dân xã tập huấn kỹ thuật thâm canh cây ngô, lúa và trồng cà phê, ứng dụng hiệu quả trong sản xuất, đời sống người dân đã thoát cảnh thiếu đói, 74% số hộ có mức sống trung bình trở lên. Hay buôn Tul được đầu tư xây dựng công trình thủy lợi Ea M’hát cùng hệ thống kênh mương nội đồng nên người dân có điều kiện canh tác lúa nước 2 vụ/năm cho năng suất cao…
Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống tinh thần cũng được cải thiện, các hủ tục dần được xóa bỏ. Trạm Y tế xã, mạng lưới y tế thôn, buôn góp phần nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, đặc biệt là dịch sốt rét đã được kiểm soát. Trường lớp được xây dựng khang trang, bảo đảm đủ chỗ học cho con em, gồm 1 trường mẫu giáo, 2 trường tiểu học, 1 trường THCS. Tỷ lệ học sinh đến trường hằng năm đạt 92-95%, xã đã được công nhận hoàn thành chương trình phổ cập THCS. Những năm qua, toàn xã có 13 học sinh dân tộc thiểu số thi đậu và theo học tại các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học trên cả nước.

tác giả: Nguồn: Báo Daklak điện tử
http://www.daklak.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=2381:tr-li-vung-cn-c-yang-mao&catid=187:di-tich-lich-s&Itemid=216


Vóc dáng nông thôn mới ở Yang Mao
Đại Đoàn Kết  - 09/08/2012 10:19


Yang Mao là xã vùng vùng sâu, vùng xa, cách trung tâm huyện Krông Bông (Đắk Lắk) hơn 40km về phía Đông. Những năm gần đây, đời sống người dân đang dần được cải thiện nhờ biết cách chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp, đem lại hiệu quả kinh tế cao.






Bà con nông dân đưa giống lúa lai vào sản xuất cho năng suất cao

Để giúp bà con phát triển kinh tế, hàng năm UBND xã phối hợp với trạm Khuyến nông, bảo vệ thực vật huyện tổ chức các lớp tập huấn khoa học kỹ thuật (KHKT) về trồng trọt, chăn nuôi hiệu quả cho hàng trăm lượt bà con. Riêng đầu năm nay, địa phương tổ chức được 3 lớp tập huấn với khoảng 150 lượt người tham gia. Nội dung tập huấn tập trung vào các chuyên đề kỹ thuật canh tác cây ngô lai chất lượng cao, trồng rau an toàn, chăn nuôi (gia súc, gia cầm), nuôi cá ao và học tập các mô hình, câu lạc bộ sản xuất, bên cạnh việc vận dụng hiệu quả các văn bản chính sách, pháp luật có liên quan đến nông nghiệp nông thôn tại địa phương. Qua đó nhiều hộ gia đình đã biết phát triển kinh tế từ các mô hình đa cây, đa con, VAC khép kín, nuôi bò lai Sin…

Tiêu biểu như hộ ông Đinh Văn Biển, thôn 1. Cách đây 3 năm, kinh tế gia đình ông còn nhiều khó khăn do chưa biết khai thác đúng tiềm năng đất canh tác, giống cây trồng, vật nuôi còn kém năng suất lại không chăm sóc đúng kỹ thuật nên hiệu quả kinh tế thấp. Từ năm 2010, ông đã vận dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp (thông qua các lớp tập huấn xã tổ chức) vào điều kiện gia đình mình. Với 1ha cà phê, 2ha ngô lai cao sản, điều, dứa, và nuôi 3 con bò giống lai sin, ông đã biết cách chú trọng ngay từ khâu chọn giống, chăm sóc cây trồng, vật nuôi hợp lý, phòng ngừa dịch bệnh đầy đủ, đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, mỗi năm thu nhập của gia đình trừ chi phí lãi từ 30- 50 triệu đồng, mua sắm được các phương tiện, thiết bị sinh hoạt tươm tất, con cái được học hành đầy đủ.

Nhiều hộ dân khác trong xã cũng đã và đang thoát nghèo và vươn lên làm giàu như hộ ông Trần văn Dân, Trần Văn Dũng… Hàng năm, chính quyền xã còn thường xuyên chỉ đạo, hướng dẫn bà con tận dụng nguồn nước tại các khe, suối, đắp kênh mương, đào ao, hồ dự trữ nước, sử dụng máy bơm nhỏ để dễ dàng cơ động trong việc tưới tiêu, đồng thời, liên hệ giúp bà con mua cây, con giống cho năng suất, chất lượng cao như lúa lai IR64, Khang Dân 18, ngô lai, heo siêu nạc…

Ông Trần Văn Lương - Chủ tịch hội Nông dân xã Yang Mao cho biết: Toàn xã hiện có 1.112 ha diện tích đất ruộng 2 vụ, năng suất cây trồng đạt 6.300 tấn/năm. Riêng vụ Hè Thu năm nay, bà con đã xuống giống được hơn 700 ha, chủ yếu là lúa nước, ngô lai, đậu, mỳ cao sản và các loại rau xanh. Nhờ ứng dụng KHKT vào sản xuất nên sản lượng ngô lai tăng lên 581 ha, năng suất bình quân đạt 5tấn/ha, mỳ cao sản 32ha, năng suất 12 tấn/ha…

Bên cạnh đó, lĩnh vực chăn nuôi cũng được chú trọng cả về chất lượng và số lượng đàn. Hiện, tổng số đàn trâu, bò toàn xã có trên 2.000 con, heo và gia cầm siêu thịt, trứng các loại gần 7.000 con, mỗi năm 2- 4 đợt, địa phương tổ chức tiêm phòng dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi hợp lý. Với việc ứng dụng tiến bộ KHKT, chuyển cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp đã tạo nên bước đột phá trong phát triển kinh tế. Hiện, toàn xã đã có đường ô tô và điện lưới quốc gia đến tận thôn buôn, hơn 60% hộ có xe máy, gần 100% hộ gia đình đã có nhà xây hoặc nhà gỗ lợp mái tôn, 100% nhân dân được nghe và có máy thu thanh, 85% dân số được phủ sóng tryền hình. Cuộc sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện.

tác giả: Tín Thành
 
Mở hướng đưa Yang Mao thoát nghèo
QĐND  - 26/03/2011 18:52

Mo huong dua Yang Mao thoat ngheo

QĐND Online - Những ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4, trên công trường thi công đường Trường Sơn Đông, cán bộ, kỹ sư và công nhân lao động của Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn (Bộ Quốc phòng) chạy đua với thời gian, sớm đưa công trình cán đích, giúp Yang Mao, huyện Krông Bông (Đắc Lắc)-địa bàn vốn là căn cứ kháng chiến thoát nghèo.


Đường Trường Sơn Đông có điểm đầu nối với đường Hồ Chí Minh tại thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Nam Giang (Quảng Nam) và điểm cuối giao cắt tỉnh lộ 722 thuộc địa phận xã Đưng K’nớ, huyện Lạc Dương (Lâm Đồng), với tổng chiều dài toàn tuyến 671km, đi qua 53 xã, phường của 18 huyện thuộc 7 tỉnh miền Trung-Tây Nguyên (trong đó qua Tây Nguyên có 470km, qua tỉnh Đắc Lắc 106km), tổng kinh phí đầu tư theo dự toán ban đầu là hơn 3.528 tỉ đồng và được sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, công trình được phát lệnh khởi công ngày 5-9-2005.
Trên tuyến đường này, Công ty Xây dựng 470 (Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn) đảm nhận thi công 4 gói cầu và đường với tổng giá trị gần 200 tỷ đồng. Với quyết tâm đẩy nhanh tiến độ thi công vào thời điểm tháng 3-2011, tranh thủ thời tiết thuận lợi, trên công trường thi công các gói thầu C8, D38 và D44, đơn vị huy động hàng trăm cán bộ, kỹ sư, công nhân lao động và hơn 100 đầu máy thiết bị, tổ chức thi công “3 ca, 4 kíp”, xung kích vào những khâu khó, phần việc khó. Chúng tôi có mặt trên công trường thi công gói cầu và đường D38 tại xã Yang Mao, chứng kiến tinh thần hăng say lao động sáng tạo của những người lính Trường Sơn hôm nay. Dưới cái nắng gay gắt của mùa khô Tây Nguyên, nhất là ở địa hình hiểm trở, heo hút như Yang Mao vốn là vùng căn cứ kháng chiến của tỉnh Đắc Lắc thì thời tiết càng khắc nghiệt hơn. Trao đổi với chúng tôi tại Sở chỉ huy công trường, Thiếu tá Trần Đăng Tuấn, chính trị viên Đội 1 (Công ty Xây dựng 470)-đơn vị đảm nhận thi công gói thầu D38 gồm 4 cầu và 5,5 km đường ngang qua địa bàn xã Yang Mao cho biết: Yang Mao nằm ở vùng giao thoa giữa khí hậu Tây Nguyên và Nam Trung bộ, vì thế mùa mưa thường kéo dài hơn bình thường từ một đến hai tháng. Mùa khô nắng nóng thất thường, muỗi và ruồi vàng nhiều. Địa bàn thi công lại heo hút, hiểm trở, trong đó có đoạn ngang qua vườn quốc gia Chư Yang Sin, công tác giải phóng mặt bằng còn vướng mắc. Đặc biệt, địa hình, địa chất khu vực này hết sức phức tạp, ngang qua nhiều khe suối, nền đất yếu, vì thế gói thầu D38 được Ban quản lý dự án 46 thuộc Bộ Tổng tham mưu (đơn vị đại diện chủ đầu tư) xác định là cung đoạn thi công thí điểm. Cụ thể, do nền đất yếu nên trong thi công, các cầu đơn vị phải áp dụng biện pháp đào bỏ đất yếu, đổi bù đất cứng và khoan cọc nhồi rất tốn kém; trong thi công cấp phối đá dăm mặt đường, đơn vị phải trộn thêm 5% xi măng và thực hiện bằng trạm trộn-đây là phương pháp mới lần đầu tiên áp dụng trên tuyến đường Trường Sơn Đông. Bên cạnh đó, do vị trí thi công nằm ở vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại không thuận tiện, vì thế việc bảo đảm nhu yếu phẩm cho sinh hoạt hàng ngày của người lao động, cung cấp nhiên liệu cho máy móc cũng khó khăn và đắt đỏ. Ngay cả việc bảo đảm nước cho thi công và sinh hoạt cũng khan hiếm.
Trước những khó khăn, thiếu thốn, nhất là những đòi hỏi gắt gao về tiến độ thi công và kỹ thuật công trình, cán bộ, kỹ sư và người lao động Công ty Xây dựng 470 trên công trường thi công đường Trường Sơn Đông đã nỗ lực vượt bậc, chạy đua với thời gian, vừa bảo đảm thi công đạt tiến độ, vừa thực hiện tốt công tác dân vận, không gây ra những tác động tiêu cực tới đời sống của bà con trên địa bàn, nhất là ở các buôn Ea Chố, Tar, Kiều, Hằng 5 của xã Yang Mao.
Thượng tá Lưu Văn Trung, Đội trưởng Đội 1 cho biết: Đơn vị nhận tuyến gói thầu D38 từ ngày 1-4-2010, với tổng khối lượng công việc phải thi công gồm: đào 200 nghìn m3 đất đá, đắp hơn 24 nghìn m3 đất đá, đổ 4.930m3 cấp phối đá dăm, đổ 7.635m3 bê tông mặt đường, nắp đặt 196 cống. Đến trung tuần tháng 3-2011, đơn vị đã hoàn thành hơn 50% khối lượng công việc, với tổng giá trị gần 30 tỷ đồng. Những cán bộ, kỹ sư như Trung úy Lê Văn Hải, Trung úy Trần Như Quỳnh cùng các đồng chí trong ban chỉ huy đội luôn bám sát các hướng, các mũi thi công, vừa chỉ huy thi công, vừa trực tiếp giải quyết những khâu khó, những phần việc phức tạp. Tập thể cán bộ, kỹ sư, công nhân lao động Đội 1 hạ quyết tâm: “Được bàn giao mặt bằng đúng cam kết, đơn vị sẽ đưa công trình về đích sớm, tạo điều kiện thuận lợi cho xã Yang Mao phát triển toàn diện”.
Với những đóng góp đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến, xã Yang Mao được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT vào tháng 5-2010. Đây cũng là địa bàn vùng sâu, đi lại khó khăn nhất của huyện Krông Bông, cách trung tâm huyện gần 40km. Hiện toàn xã có hơn 4.800 nhân khẩu trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 76%, tỷ lệ hộ nghèo còn 62%. Theo đồng chí Y Dhăk Niê Kđăm, Bí thư đảng ủy thì: Do nằm ở vùng sâu vùng xa, giao thông cách trở nên giá cả nông sản bà con Yang Mao làm ra thường phải bán rẻ, chỉ bằng 50% giá thị trường, trong khi hàng hóa mua về do chi phí vận chuyển nên khi tới tay người dân lại đội giá lên gấp đôi. Giao thông cách trở là trở ngại lớn cho xóa đói giảm nghèo ở Yang Mao. Vì thế, khi tuyến đường Trường Sơn Đông hoàn thành, trong đó có 11 km ngang qua Yang Mao sẽ mở ra những thuận lợi rất lớn cho xã chúng tôi trong phát triển kinh tế-xã hội và xây dựng thế trận quốc phòng-an ninh. Đường Trường Sơn Đông thực sự là con đường của ý Đảng và lòng dân.

tác giả:  Bài và ảnh: Kiều Bình Định
 trích nguồn: http://www.baomoi.com/Mo-huong-dua-Yang-Mao-thoat-ngheo/148/5946369.epi


Án tử hình kẻ Hiếp và Giết bé gái ở xã Cư Pui.

07:18 | 14/09/2013


Ngày 10/9/2013, tại UBND xã Cư Pui, Krông Bông, TAND Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã mở phiên tòa lưu động, xét xử sơ thẩm 2 vụ án hình sự đối với 2 bị cáo Trần Tấn Phát (SN 1975, trú tại phường 3, quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh) về tội mua bán trá

Theo cáo trạng của VKSND tỉnh Đắk Lắk về vụ án buôn bán trái phép chất ma túy: Ngày 26/4/2013 Trần Tấn Phát (SN 1975) có khẩu thường trú tại phường 3 quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh đến khu vực bến xe Miền Đông Tp. Hồ Chí Minh để tìm mua heroin, tại đây Phát mua 2 gói heroin của một người đàn ông không rõ lai lịch với số tiền 46 triệu đồng. Từ số heroin mua được Trần Tấn Phát đón xe khách lên TP. Buôn Ma Thuột với ý định bán kiếm lời.
Ngày 27/4/2013 đến thành phố Buôn Mê Thuột, Trần Tấn Phát thuê phòng số 302 nhà nghĩ Hoàng Anh số 09 đường Nguyễn Công Trứ TP. Buôn Ma Thuột để ở lại và kiếm mối bán heroin thì bị Cơ quan CSĐT Công an  tỉnh Đắk Lắk bắt quả tang với số heroin Phát mang theo. Qua giám định số heroin Trần Tấn Phát mang theo trong người có trọng lượng hơn 68,1 gam.
Tại phiên xét xử sơ thẩm, TAND tỉnh Đắk Lắk đã tuyên phạt bị cáo Trần Tấn Phát 18 năm tù giam.
Image
Phiên tòa xét xử lưu động tại xã Cư Pui – Krông Bông ngày 10/9/2013
Cũng theo cáo trạng của VKSND tỉnh Đắk Lắk về vụ án hiếm dâm trẻ em và giết người: Vào khoảng 10 giờ ngày 15/12/2012, Y Hồng Byă (SN 1993), dân tộc M’Nông, hộ khẩu thường trú tại buôn Đắk Tuôr, xã CưPui.
Sau khi đi làm ruộng về, Y Hồng thấy cháu H’Quyên Byă (sinh ngày 10/7/2007) đang đi trên đường, đã nỗi dục vọng và muốn giao cấu với cháu H’ Quyên.
Khi cháu H’Quyên Byă đi qua khu vực đường vắng, Y Hồng đã chạy theo dùng hai tay bịt miệng và bế cháu H’ Quyên đến bụi tre gần rẫy cao su với ý định giao cấu. Tại đây, Y Hồng một tay bịt miệng, một tay cởi quần thực hiện hành vi giao cấu với cháu H’ Quyên. nhưng cháu H’ Quyên còn quá nhỏ nên tên Y Hồng Byă chưa thực hiện được hành vi của mình.
Cháu H’ Quyên quá sợ hãi đã bật khóc, Y Hồng sợ người dân phát hiện và cháu H’ Quyên về kể với gia đình, nên đã đã nảy ý định giết cháu H’ Quyên để che giấu hành vi hiếp dâm của mình.
Y Hồng đã lấy tay đấm vào gáy, dùng cục đá đập liên tiếp nhiều cái vào đầu cháu H’ Quyên cho đến chết, rồi kéo cháu đặt nằm ngửa xuống hố đất, rồi lấy đất, cỏ lấp lại để che đậy hành vi.
Sau hơn 10 ngày gây án, tên Y Hồng Băy bị Cơ quan điều tra công an tỉnh Đắk Lắk bắt vào ngày 26/12/2012 tại gia đình.
Tại phiên tòa, mặc dù bước đầu bị cáo Y Hồng Byă chối cãi không chịu khai nhận hành vi phạm tội của mình, nhưng trước những chứng cứ xác thực cơ quan công an điều tra thu thập được, bị cáo đã phải cúi đầu nhận tội.
Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã tuyên phạt bị cáo Y Hồng Byă, mức án tử hình về tội hiếp dâm trẻ em, giết người và buộc gia đình bị cáo bồi thường hơn 100 triệu đồng chi phí mai táng, tinh thần cho gia đình bị hại./.
 
tác giả: Lê Niềm
 
 
 
 
 
 
 
Đến thăm làng "siêu đẻ" Cư Pui
Thứ Ba, 26/03/2013 15:29

Những gia đình “siêu đẻ” ở xã Cư Pui hầu hết là người Mông ở 6 thôn: Ea Lang, Ea Uôl, Ea Bar, Cư Rang, Cư Tê và Ea Rớt di cư từ các tỉnh phía Bắc vào. Họ đều có cuộc sống hết sức khó khăn, thiếu đất sản xuất, nhà cửa tạm bợ, con cái thất học...

Gia đình vợ chồng anh Lầu Chờ Thào và chị Sùng Thị Dính ở huyện Yên Minh (Hà Giang) di cư vào thôn Ea Uôl, xã Cư Pui (huyện Krông Bông- Đắk Lắk) từ năm 2005. Ở độ tuổi 40, vợ chồng anh đã có 10 đứa con: 6 trai và 4 gái. Đông con nhưng không có đất sản xuất nên hai vợ chồng phải đi làm thuê để kiếm gạo nuôi con qua ngày.
 
Nhà cửa chỉ là những mảnh phên lồ ô ghép lại, tài sản hầu như không có gì ngoài chiếc xe đạp cũ. Ngoài 3 đứa nhỏ chưa đến tuổi đi học, trong 7 đứa lớn thì 4 đứa không được cắp sách đến trường, 3 đứa đi học nhưng bữa học, bữa nghỉ do phải giúp đỡ bố mẹ lấy củi, giữ em, nấu cơm...
 
Anh Thào tâm sự: “Do không sử dụng các biện pháp tránh thai nên vợ chồng tôi mới sinh nhiều như vậy. Gia đình 12 miệng ăn nhưng chỉ trông chờ vào sức lao động của một mình tôi, vợ phải ở nhà chăm con không có thời gian đi làm”.
 
Ngôi nhà gia đình anh Sùng Văn Khải ở thôn Ea Lang với 6 đứa con.
 
Ở cùng thôn và chung hoàn cảnh như gia đình anh Thào, vợ chồng ông Sùng Pa Thào và bà Vàng Thị Má tuy đã có với nhau 8 đứa con (7 trai và 1 gái) nhưng vừa qua vợ của ông lại sinh thêm 1 đứa con trai nữa. Hiện nay ông đã ngoài 50 tuổi, kinh tế gia đình thuộc vào diện đặc biệt khó khăn.
 
Ông Thào tâm sự: “Biết đẻ nhiều khổ lắm nhưng vợ mình không đặt vòng được, không uống thuốc được. Gia đình mình nghèo lắm, 2 vợ chồng với 9 đứa con nhưng chỉ có 5 sào đất dốc để trồng bắp, trồng sắn. Cả năm chủ yếu là xay bắp để ăn chứ không có cơm. Hiện tại có 5 đứa đi học nhưng cũng không đủ quần áo mặc, không có giày dép để đi. Trước kia cũng có được ít đất nhưng do con đông, vợ lại hay đau ốm nên bán hết để chữa bệnh và mua gạo để ăn”.
 
Cũng như thôn Ea Uôl, thôn Ea Rớt là một trong những thôn nghèo nhất của xã Cư Pui với trên 40% hộ nghèo và số gia đình “siêu đẻ” trong thôn có khá nhiều.
 
Ông Lò Tiến Dũng, Trưởng thôn cho biết: “Trong thôn số gia đình có từ 5-6 đứa con trở lên rất nhiều. Điển hình như gia đình anh Thào Văn Thề mới ngoài 30 tuổi nhưng có đến 8 đứa con (cả 8 đứa đều không đi học); gia đình ông Sùng A Páo có 13 đứa con nhưng chỉ vài đứa được cắp sách đến trường; Lò Thị Mỵ chưa đến 30 tuổi nhưng đã có 8 đứa con; gia đình ông Lò Seo Vạn có 9 đứa con...”.
 
Ông Lò Khải Phù (nguyên là Trưởng thôn Ea Rớt) mới ngoài 50 tuổi nhưng đã có 21 cháu nội, ngoại. Ông Phù tâm sự: “Mình quê huyện Vị Xuyên (Hà Giang) di cư vào Ea Rớt từ năm 1996. Gia đình có 14 đứa con nhưng mất 2 đứa, giờ còn 6 trai và 6 gái. Do hoàn cảnh khó khăn, trường lại ở xa nên 9 đứa con đã bỏ học.
 
Hiện tại, 6 đứa con lớn đã xây dựng gia đình. Cô con gái đầu năm nay 30 tuổi nhưng đã có 8 đứa con trai, cô con gái thứ hai, cậu con trai thứ ba mới cưới được 5-6 năm nhưng đến nay mỗi đứa cũng đã có 4 đứa con... Do sinh nhiều con nên suốt ngày bố mẹ chúng phải làm lụng vất vả để nuôi chúng nhưng vẫn không đủ ăn, đủ mặc; không có thời gian chăm sóc con cái nên nhiều đứa ốm yếu, thất học; nhà cửa tuềnh toàng, tạm bợ”.
 
Ở thôn Ea Bar, tỷ lệ người sinh con thứ 3 trở lên trên 90%, trong đó số người sinh con thứ 7 trở lên có đến hàng chục gia đình. Điển hình là vợ chồng Lý Seo Giàng và Ma Thị Thào sinh năm 1975 nhưng có đến 11 đứa con;  vợ chồng anh Sùng Seo Thang và Ma Thị Mầm 9 đứa con; vợ chồng Vàng Mí Lương và Sùng Thị Tý 7 đứa con…
 
Anh Thào Seo Thề cùng vợ là Hầu Thị Dế quê ở xã Bạch Ngọc (Vị Xuyên, Hà Giang) vì cuộc sống khó khăn nên di cư vào thôn Ea Bar năm 1999. Anh tâm sự: “Ở ngoài Bắc gia đình mình đã có 2 đứa con gái, khi chuyển vào đây vợ mình sinh thêm 4 đứa con gái nữa. Vì chưa có con trai nên vợ chồng mình cố gắng sinh thêm và được 2 đứa con trai. Đến nay gia đình mình đã có 8 đứa con, cuộc sống vô cùng vất vả”.
 
Những gia đình “siêu đẻ” ở xã Cư Pui hầu hết là người Mông ở 6 thôn: Ea Lang, Ea Uôl, Ea Bar, Cư Rang, Cư Tê và Ea Rớt di cư từ các tỉnh phía Bắc vào. Họ đều có cuộc sống hết sức khó khăn, thiếu đất sản xuất, nhà cửa tạm bợ, con cái thất học.
 
Theo bà Lê Thị Thúy, cán bộ dân số xã Cư Pui, những gia đình “siêu đẻ” đều có nhận thức kém; nặng tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”, không dùng các biện pháp tránh thai; đặc biệt, công tác tuyên truyền, vận động sử dụng các biện pháp tránh thai của đội ngũ cộng tác viên dân số ở đây chưa hiệu quả... Để khắc phục tình trạng này, thiết nghĩ ngoài sự nhiệt tình, tâm huyết của đội ngũ cộng tác viên dân số thì rất cần sự vào cuộc của các cấp, ngành, đoàn thể.
 
 tác giả: Theo Tùng Lâm (Đắk Lắk Online)
trích nguồn: http://nld.com.vn/dia-phuong/den-tham-lang-sieu-de-cu-pui-2013032603294012.htm



Phát triển nghề mộc ở xã Hòa Phong

Xã Hòa Phong (Mỹ Hào) từ lâu đã nổi tiếng bởi có thôn Vân Dương (còn gọi là làng Muồng) chuyên sản xuất cày, bừa cung cấp khắp thị trường trong và ngoài tỉnh thì ngày nay nghề mộc phát triển ở tất cả 7 thôn trong xã. Đồ gỗ của những người thợ trong xã đang khẳng định uy tín trên thị trường trong và ngoài nước. Tuy nhiên, để duy trì và phát triển nghề mộc như ngày nay, những người thợ ở đây cũng phải trải qua nhiều bước thăng trầm.
Đến thăm hộ anh Vũ Văn Công, chủ một cơ sở chế biến gỗ ở thôn Vân Dương. Đang bận bịu với bộn bề công việc, nên phải chờ một lúc tôi mới gặp được anh. Nói về nghề mộc, anh cho biết, với 20 năm làm nghề, anh là đời thứ ba trong gia đình làm nghề mộc. Trước đây, hầu hết các hộ làm mộc trong làng Muồng đều sản xuất cày, bừa, mai, móng, vừa bền, rẻ lại hợp ý nhà nông. Thời kỳ thịnh vượng, mỗi vụ anh sản xuất cung cấp tại thị trường Hải Phòng và các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình hàng nghìn sản phẩm (chủ yếu là cày, bừa). Do cơ giới hóa nông nghiệp phát triển, nhu cầu sử dụng cày, bừa giảm, chục năm trở lại đây, những người thợ trong thôn chuyển sang làm mộc dân dụng, mộc mỹ nghệ. Gia đình anh Công cũng chuyển sang làm cầu thang gỗ, chủ yếu phục vụ các công trình công cộng và nhà dân, nhưng ai đặt cày bừa thì vẫn làm. Hiện nay cơ sở của anh tạo việc làm cho hơn chục lao động, chủ yếu là người trong xã.
 
 
Là một chủ xưởng đồ gỗ mỹ nghệ có tiếng, anh Nguyễn Văn Đủ cũng phải mất rất nhiều năm đi tìm chỗ đứng cho nghề chạm khắc gỗ. Sinh ra trong một gia đình làm nghề mộc, ngay từ thuở nhỏ anh Đủ rất đam mê và có năng khiếu nặn, vẽ con giống. Học hết lớp 6, anh rời ghế nhà trường đến làng nghề Đông Giao ở tỉnh Hải Dương học nghề chạm khắc gỗ. Sau khi thành nghề, Đủ đi vào các tỉnh phía Nam, vừa làm thuê, vừa tìm thày tâm huyết học nghề, kết hợp với khả năng nhận thức của mình, anh đã trở thành một thợ có tay nghề khá. Năm 1998, anh về quê đầu tư mở xưởng, không ngờ sau 3 năm lại bị thất bại vì Hoà Phong lúc đó chưa có thôn nào được công nhận làng nghề, mặt khác chưa có uy tín đối với khách hàng. Phân tích nguyên nhân thất bại, thêm một lần nữa anh trở lại làng nghề Đông Giao làm thuê với mục đích chính là để khách đến mua hàng được chứng kiến sản phẩm do chính anh làm ra. Dần dần, nhiều khách hàng đã biết đến anh là một thợ giỏi. Năm 2008, anh lại trở về mở xưởng sản xuất tại nhà, chuyên làm các con giống, cây cảnh bằng gỗ, rất độc đáo và đẹp mắt. Từ đó đến nay đã có nhiều khách hàng trong và ngoài nước đến đặt mua hàng của anh. Nay ngoài 30 tuổi, nhưng anh đã làm một chủ cơ sở chạm khảm đồ gỗ cao cấp có uy tín nhất trong vùng và được nhiều nơi biết đến. Hiện cơ sở sản xuất của gia đình anh tạo việc làm thường xuyên cho gần 10 lao động, đồng thời còn truyền nghề cho nhiều lao động trong và ngoài tỉnh.
Thăng trầm là vậy nhưng với lòng yêu nghề, sự năng động, sáng tạo của những người như anh Công, anh Đủ cũng như người dân Hòa Phong trong cơ chế mới, nghề mộc ở đây đang được đầu tư, phát triển mạnh; sản phẩm gỗ ở Hòa Phong đã được khách hàng nhiều nơi biết đến. Được biết, toàn xã hiện có trên 100 xưởng mộc lớn nhỏ, trong đó tập trung nhiều ở các thôn Thuần Mỹ, Phúc Miếu và Hòa Lạc, tạo việc làm cho hàng trăm lao động. Ngoài sản xuất tại chỗ, nhiều thợ của xã mở xưởng mộc tại các tỉnh Nghệ An, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Quảng Ninh… và các nước bạn Lào, Trung Quốc. Sản phẩm mộc ở đây rất đa dạng, tập trung ở các nhóm hàng salon Âu, Á, chạm khắc cây cảnh, con giống và các đồ gia dụng. Đặc biệt, những năm gần đây sản phẩm mộc của xã Hòa Phong được nâng cao, có uy tín trên thị trường nên được nhiều khách hàng ngoài tỉnh và nước ngoài đến đặt mua. Từ nghề mộc đã tạo việc làm cho hàng trăm lao động trong và ngoài xã với mức thu nhập từ 3 triệu đến trên 10 triệu đồng/người/tháng. Chính vì sự phát triển mạnh của nghề mộc đã giải quyết việc làm cho người lao động và mang lại nguồn thu đáng kể đối với các hộ gia đình của toàn xã.
 
tác giả: Bài, ảnh: Đức Toản
 
 
Phục Dựng Lễ Cúng Thần Lúa tại buôn T’Liêr, xã Hòa Phong, huyện Krông Bông.
Trong đời sống của mình, người Ê-đê tổ chức nhiều nghi lễ lớn nhỏ, định kì và bất thường. Đó là những nghi thức hoặc lễ hội gắn với những hiện tượng liên quan tới vòng đời người đến chu trình sản xuất (chủ yếu là sản xuất nông nghiệp)… Nằm trong chương trình  bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc bản địa, vừa qua Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức phục dựng lễ cúng thần lúa tại buôn T’Liêr, xã Hòa Phong, huyện Krông Bông.
Để chuẩn bị cho việc cúng rẫy, chủ rẫy phải chuẩn bị các bước như: Phát hoang, đốt rẫy, dọn đất…  Sau khi chuẩn bị các bước trên xong, dân làng chuẩn bị Lễ cúng thần lúa và các thần khác, như: cúng thần gió, cúng cái cào cỏ, lễ trỉa lúa cho cả buôn, lễ cầu mưa. Cầu các thần phù hộ cho mưa thuận gió hòa mùa màng được bội thu, kinh tế phát triển, đời sống ấm no hạnh phúc.
Cúng thần gió, mong tránh bão dông (Lễ vật: 1 Ché rượu, 1 con heo, 1 ống cơm lam). Cúng cái cào cỏ: Cúng trước lúc trồng tỉa, ở bến nước, cầu mưa thuận gió hòa, rẫy ít cỏ, ngô lúa tốt tươi, thầy cúng cầm cào cỏ cào mấy lần tượng trưng cho mùa làm rẫy bắt đầu (lễ vật: 1 ché rượu và 1 con heo). Lễ trỉa lúa cho cả buôn: Người ta dựng 2 chòi ở nơi trước đây đã làm lễ cúng thần gió, với ý nguyện: “Mong mưa phùn đủ nước, mong mưa rào no rẫy” (Lễ vật: 7 ché rượu, 1 con heo, 8 con gà (1 con gà lông trắng)). Cúng ở trong nhà: Một bộ cồng chiêng, đặt đủ 7 ché rượu và các con vật làm sẵn để dâng cho các thần. Cúng ở ngoài trời, gồm: một chòi có 3 cái bồ lúa đựng đất (thể hiện thần lúa lúa nằm trong đất), chòi ở cho Thần Lúa (Yang Bao), có tượng 2 vợ chồng tượng trưng cho thần canh giữ rẫy,  nằm dưới chòi có 1 tượng thần độc ác bị buộc chặt vào cột nhà ngụ ý để không bị phá phách. )). Ngoài ra, vật liệu trang bị cúng ở ngoài buôn: 1 cây cắm tổ ong, nhiều hình giả con thú ( Nai, Heo rừng, Nhím, Chuột, Sóc…), Brui (tượng trưng cho bông Lúa), hạt giống thật (lúa Ngô, hạt bí bầu… được trộn chung với nhau),  cây chọc lỗ, ống lồ ô đựng hạt để tỉa lúa, các loại bẫy phòng trách thú vật phá hoại…  Cúng Hạt giống (Tring mjel) cầu cho hạt lúa lên đều; ngoài ra còn tái hiện lại cảnh lao động sản xuất, tạo mưa cho mùa màng tươi tốt và đặt các loại bẩy để tránh các loại thú đến phá hoại và xin các thần đừng cho các con thú nhỏ (chim, sóc , chuột) phá hại lúa đang nẫy mầm mau phát triển xanh tốt; Hạt giống các loại: Lúa, ngô, bí, bầu ( lễ vật: 4 ché rượu (1 ché màu đen), 4 con gà (1 con gà lông trắng. Đắp một mô đất nhỏ, 1 tô huyết, 1  Brui (tượng trưng cho bông Lúa) cúng thần đất ( lễ vật để cúng: 1 ché rượu, 1 con gà, 1 tô huyết heo), cúng cho chủ nhà và cả cộng đồng.
Sau khi cúng xong ngoài trời về nhà đánh cồng chiêng mời các thần ăn uống rồi người dân lần lượt ăn uống. Sau đó tiếp tục cúng đưa đi và xua đuổi Thần sấm sét trở về nơi của mình.
Sau khi lúa sắp trổ bông chủ rẫy lại chuẩn bị lễ vật cúng lúa Sắp trổ bông,   Cầu lúa trổ bông đều dài đầy hạt đạt năng xuất cao. Chủ nhà chọn một mô đất quanh một bụi lúa giữa rẫy, cắm một tre nhỏ, dai giữa nắm đất, tượng trưng cho thần lúa. Lễ này cúng cho các  thần: Thần núi, Thần lúa, người đã qua đời.
Khi lúa đến mùa thu hoạch, chủ rẫy lại chuẩn bị lễ cúng tuốt lúa đầu mùa và nghi lễ ăn cơm mới, gồm 2 phần: Lễ cúng cơm mới: Lúa bắt đầu chín, người nhà lên rẫy tuốt một gùi đem về, phơi giả nấu cơm cúng. Họ hàng được báo đều đến thăm gia chủ. Ngoài ra trên các ngã đường lên rẫy, người ta bầy lễ vật cúng tạ thần mưa. Cúng tuốt lúa đầu mùa: Cầu lúa đầy bồ, sức khỏe dồi dào ấm no hạnh phúc. Trước khi tuốt , chủ thăm rẫy, để ý góc lúa tốt nhất, buộc túm 7 ngọn lại úp giỏ đựng lúa lên trên. Khóm lúa này sẽ dung làm vật phẩm trong lễ đóng kho lúa. Thời gian ăn cơm mới kéo dài khi tuốt lúa cho đến khi lúa chin hết trên rẫy.
Sau khi lúa đã thu hoạch về nhà, chủ rẫy lại tổ chức lễ cúng hồn lúa trữ kho: Cầu mong ăn nhiều, dư nhiều, phần dư bán để sắm tài sản làm giàu cho gia đình. (cầu mong không bao giờ thiếu ăn nghèo đói). Đây là lễ cốt giữ cho hồn lúa đừng ra khỏi kho thì lúa mới luôn đầy kho.
 
454
Chuẩn bị cho Lễ cúng
 
454
Thầy cúng đang làm Lễ trong nhà
 
454
Trên đường ra rẫy
 
454
Những đứa trẻ ở buôn T’Liêr
 
454
Làm bẩy ngăn ngừa thú đến phá hoại hoa màu
 
454
Chuẩn bị Lễ cúng ngoài rẫy
 
454
Tái hiện tỉa lúa rẫy
 
454
Thầy cúng đang làm Lễ
 
454454
Thưởng thức rượu
tác giả:  Hữu Hùng